Một số bạn thường làm thơ kiểu: viết 1 đoạn văn và bẻ ra từng mẩu để thành một bài thơ, khi người khác đọc bài thơ đó cảm giác rất chán nản và vô nghĩa. Do đó để giúp các bạn yêu thơ có thể làm được những vần thơ hay, mượt mà cảm xúc, nâng niu người đọc, em sưu tầm một bài hướng dẫn để ai chưa biết "nặn" thơ thì cùng nhau tham khảo và "nặn" ra những vần thơ được công chúng diễn đàn đón nhận hơn!
Bài này em sưu tầm của một chị bên diễn đàn MHT.COM (Diễn đàn này đã chết được khoảng 2 năm nay rồi nhưng bài hướng dẫn này em vẫn giữ trong máy nên post lên cho mọi người cùng tham khảo)
Bài hướng dẫn của chị Nhậm Doanh Doanh:em xin phép copy lại nguyên văn không sửa chữa, chỉ đánh đậm và tô mầu những đoạn cần chú ý để anh chị em dễ thây hơn thôi!
Thưa các bạn hữu võ lâm, đã ghé thăm Mai Hoa Thi Đàn chắc hẳn các bạn đều yêu thích thơ, và có thể cũng muốn bày tỏ cảm xúc của mình vào những lời thơ bay bổng . Tuy nhiên, có không ít người chưa biết cách gieo vần hay làm một khổ thơ phải như thế nào . Vì vậy, ở đây Doanh Doanh xin được phác họa vài nét sơ lược về luật làm thơ mong giúp được các bạn .
Thơ có rất nhiều thể loại, thơ bẩy chữ, tám chữ, năm chữ, lục bát, song thất lục bát, thất ngôn bát cú Đường Luật, tứ tuyệt ..v..v ... Trong bài viết này, DD xin đề cập đến cách làm thơ bẩy chữ và phần sau là thơ lục bát và thơ tám chữ.
I. Vần trong thơ
Vần bằng : là những chữ không có dấu hoặc mang dấu bằng
Vần trắc: là những chữ mang dấu sắc, hỏi, ngã, nặng
Đã làm thơ là phải gieo vần, không có vần thì dù hay đến mấy cũng không thể gọi là thơ được . Những chữ có cách viết và cách phát âm tương tự nhau thì gọi là vần . Ví dụ như : hoa-hòa , mây-bầy , hương-thường , đời - người v.v.v.
II. Cách gieo vần trong thơ bẩy chữ
1. Cách thứ nhất :Trong khổ thơ gồm 4 câu, gieo vần ở cuối câu 1,2, 4
Ví dụ :
Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời
Đàn ghê như nước, lạnh trời ơi
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người
2. Cách thứ hai : Gieo vần ôm - Chữ cuối câu 1 vần với câu 4, chữ cuối câu 2 vần với cuối câu 3
Ví dụ :
Tiếng đàn thầm dịu dẫn tôi đi
Qua những sân cung rộng hải hồ
Có phải A Phòng hay Cô Tô ?
Lá liễu dài như một nét mi
3. Cách thứ ba : Gieo vần chéo
Chữ cuối câu 1 vần với cuối câu 3, hoặc chữ cuối câu 2 vần với cuối câu 4
Ví dụ :
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân
Chú ý : để câu thơ được nhịp nhàng, ở chữ 2,4,6 của câu thơ, nên gieo vần bằng, trắc, bằng hoặc trắc, bằng, trắc
Ví dụ
bốn bề ánh nhạc biển pha lê (B-T-B)
sương bạc làm thinh khuya nín thở (T-B-T)
Sau khi đã gieo vần bằng trắc nhịp nhàng ở mỗi câu thơ, bạn cần chú ý đến kết hợp vần của 4 câu thơ trong cả khổ thơ .
1.Cách thứ nhất :
Gieo vần bằng, trắc ở các chữ 2,4,6 của mỗi câu
Câu 1: B-T-B
Câu 2: T-B-T
Câu 3: T-B-T
Câu 4: B-T-B
Ví dụ :
Bốn bề ánh nhạc biển pha lê (B-T-B)
Chiếu đảo hồn tôi rộn bốn bề (T-B-T)
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở (T-B-T)
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê (B-T-B)
Gieo vần trắc, bằng ở các chữ 2,4,6 của mỗi câu
Câu 1: T-B-T
Câu 2: B-T-B
Câu 3: B-T-B
Câu 4: T-B-T
Ví dụ :
phơ phất ngoài hiên, dáng liễu hoa (T-B-T)
sương sa man mác gió xuân tà (B-T-B)
cảnh khuya gợi nỗi niềm xa xứ (B-T-B)
ánh nguyệt soi lầu chỉ bóng ta (T-B-T)
Khác với thơ bẩy chữ, thơ lục bát gieo vần ở cuối câu lục và ở chữ thứ 6 của câu bát theo luật như sau :
-Chữ cuối câu lục vần với chữ thứ sáu của câu bát , chữ cuối câu bát vần với chữ cuối câu lục tiếp theo, cứ như thế tiếp tục .
ví dụ :
Khúc đâu Tư mã Phượng cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng !
Kê Khang này khúc Quảng lăng,
Một rằng lưu thủy, hai rằng hành vân
Ví dụ : Trong như tiếng hạc bay qua (B-T-B)
-Các chữ thứ 2,4,6,8 của câu bát phải là bằng, trắc, bằng, bằng
ví dụ : đục như tiếng suối mới sa nửa vời (B-T-B-B)
IV. Luật thơ ĐƯỜNG
Nhất, tam, ngũ, bất luận
Nhị, tứ, lục, phân minh
Nghĩa là chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm không kể (bất luận), tức không nhất thiết phải theo đúng luật; còn chữ thứ hai, thứ tư và thứ sáu thì bắt buộc phải theo luật (phân minh). Nếu không theo luật thì gọi là thất luật.
Niêm-Những chữ phải đi cặp với nhau và dính với nhau.
Ví du:Luật Bằng Vần Bằng.
Câu 1 niêm với câu 8
1.B B T T T B B (V)
Câu 2 niêm với câu 3
2. T T B B T T B (V)
3. T T B B B T T
Câu 4 niêm với câu 5
4. B B T T T B B (V)
5. B B T T B B T
Câu 6 niêm với câu 7
6. T T B B T T B (V)
7. T T B B B T T
Câu 8 niêm với câu 1
8.B B T T T B B (V)
Ví dụ: Luật Trắc Vần Bằng.
Câu 1 niêm với câu 8
1. T T B B T T B (V)
Câu 2 niêm với câu 3
2. B B T T T B B (V)
3. B B T T B B T
Câu 4 niêm với câu 5
4. T T B B T T B (V)
5. T T B B B T T
Câu 6 niêm với câu 7
6. B B T T T B B (V)
7. B B T T B B T
Câu 8 niêm với câu 1
8. T T B B T T B (V)
Cũng có trường hợp nhà thơ làm sai luật, thay vì đang ở Luật Bằng thì lại đổi sang Luật Trắc. Vì Niêm không đi với nhau nên gọi là Thất Niêm.
Ví dụ: Dùng bài thơ Cảnh Làm Lẽ (Lấy Chồng Chung) của Hồ Xuân Hương (đúng niêm luật) để đổi sang thất niêm (xem chữ thứ 2 có gạch dưới):
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung!
Năm thì mười họa, nên chăng chớ,
Một tháng đôi lần, có cũng không...
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hỏng,
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Thân này ví biết dường này nhỉ,
Thà trước thôi đành ở vậy xong.
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung!
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hỏng (thất niêm),
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Năm thì mười họa, nên chăng chớ,
Một tháng đôi lần, có cũng không...
Thân này ví biết dường này nhỉ,
Thà trước thôi đành ở vậy xong.
Khi làm thơ Đường Luật thì phải giữ cho đúng niêm luật. Nếu không, dù bài thơ của bạn có nội dung hay mấy đi nữa thì cũng không thể chấp nhận được.
V. Cách Làm Thơ Tám Chữ
Trong một câu, nên có sự cân bằng giữa số lượng các vần bằng và vần trắc ví dụ Bằng /Trắc = 3/5 hay ngược lại . Vần bằng trắc cũng nên xen kẽ đều đặn để câu thơ uyển chuyển nhịp nhàng . Gieo vần thì có nhiều cách, đệ có thể theo các cách tương tự như gieo vần thơ 7 chữ như sau :
1. Gieo vần ôm :
- Chữ cuối câu 1 vần với chữ cuối câu 4, cuối câu 2 vần với cuối câu 3 .
Ví dụ :
Ngươi ám ảnh hương thơm bằng ánh sáng
Ru màu êm, mà gọi thức lòng ngây
Trăng, nguồn sương làm ướt cả gió hây
Trăng, võng rượu khiến đêm mờ chếnh choáng
2. Gieo vần chéo :
Chữ cuối câu 1 vần với cuối câu 3, và/hoặc chữ cuối câu 2 vần với cuối câu 4
Ví dụ
Tạo hóa hỡi ! Hãy trả tôi về Chiêm Quốc !
Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian !
Muôn cảnh đời chỉ làm tôi chướng mắt !
Muôn vui tươi nhắc mãi vẻ điêu tàn
Tôi không muốn đất trời xoay chuyển nữa
Với tháng ngày biền biệt đuổi nhau trôi
Xuân đừng về ! Hè đừng gieo ánh lửa
Thu thôi sang ! Đông thôi lại não lòng tôi
Ví dụ :
cõi thiên tiên kiều diễm ngàn ảo ảnh
điện nguy nga tỏa muôn ánh pha lê
thuyền Từ Thức bồng bềnh tới bến mê
rồi ngơ ngẩn khi trở về hiện thực
Chú ý : bằng vần với bằng, trắc vần với trắc . Bằng không bao giờ vần với trắc . Ví dụ :lồng không vần với lộng
Nếu làm thơ nhiều đoạn, chữ cuối câu 4 của đoạn trước luôn vần với chữ cuối câu 1 của đoạn sau
Ví dụ :
Làm thi sĩ , nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây,
Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây,
Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến
Đây là quán tha hồ muôn khách đến
Đây là bình thu hợp trí muôn hương;
Đây là vườn chim nhả hạt mười phương,
Hoa mật ngọt chen giao cùng trái độc
Sửa bởi Bách Nhục, 24/03/2010 - 10:52.




Chủ đề này đã khóa















