Chuyển tới nội dung


- - - - -

TRuyện Kiều


  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể trả lời chủ đề này
25 trả lời cho chủ đề này

#21 Thảo Nguyên

    Thiên Thần.Điên


  • Thành viên
  • PipPipPipPipPip
  • 1438 Bài viết:
  • 167 chủ đề
121

Đăng vào: 17/01/2009 - 18:06

Đoạn 014

Thâm nghiêm kín cổng cao tường,
Cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh.
Lơ thơ tơ liễu buông mành,
Con oanh học nói trên cành mỉa mai.



Mấy lần cửa đóng then cài,
Đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu ?
Tần ngần đứng suốt giờ lâu,
Dạo quanh chợt thấy mái sau có nhà.



Là nhà Ngô Việt thương gia,
Buồng không để đó người xa chưa về.
Lấy điều du học hỏi thuê,
Túi đàn cặp sách đề huề dọn sang.



Có cây, có đá sẵn sàng,
Có hiên Lãm Thúy, nét vàng chưa phai.
Mừng thầm chốn ấy chữ bài,
Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây.



Song hồ nửa khép cánh mây,
Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông.
Tấc gang đồng tỏa nguyên phong,
Tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra.


- Lá thắm: Do chữ Hồng diệp. Vu Hựu, đời Đường, một hôm đi chơi, bắt được chiếc lá đỏ trôi trên ngòi nước từ cung vua chảy ra. Trên lá có đề một bài thơ, Vu Hựu bèn để lại hai câu thơ vào chiếc lá đỏ khác, rồi đem thả nơi đầu ngòi nước, cho trôi vào cung vua. Hàn thị, người cung nữ thả lá đỏ khi trước, lại bắt được lá đỏ của Vu Hựu. Về sau, nhờ dịp vua phóng thích cung nữ, Vu Hựu lấy được Hàn thị.

-Chim xanh: Người ta thường gọi sứ giả đưa tin là "chim xanh" (thanh điểu). Câu này ý nói: Khó thông tin tức mối manh với Thuý Kiều.

-Ngô Việt thương gia: Nhà đi buôn ở nước Ngô, nước Việt (đi buôn xa, nay Ngô, mai Việt).

- Đá: Đây chỉ núi giả (ta thường gọi là núi non bộ ) do những tảng đá xếp thành.

- Lãm Thuý: tên cái hiên của nhà Ngô Việt thương gia. Vì có chữ Thuý trùng với một chữ trong tên Kiều nên Kim Trọng mới mừng thầm là có duyên số tiên định.

- Bài: Bày ra, xếp đặt sẵn, do chữ "an bài".

- Song hồ: Cửa sổ dán giấy. Cành mây: Cánh cửa sổ.

''Tấc gang đồng tỏa nguyên phong,
Tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra.

ý nói: Cửa động bị khoá, cửa nguồn bị ngăn, cho nên tuy nhà Kiều gần có gang tấc, mà vẫn là xa xôi cách trở.

#22 Thảo Nguyên

    Thiên Thần.Điên


  • Thành viên
  • PipPipPipPipPip
  • 1438 Bài viết:
  • 167 chủ đề
121

Đăng vào: 24/01/2009 - 13:44

Đoạn 015

Nhẫn từ quán khách lân la,
Tuần trăng thấm thoắt nay đà thèm hai.



Cách tường phải buổi êm trời,
Dưới đào dường có bóng người thướt tha.



Buông cầm xốc áo vội ra,
Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh.
Lần theo tường gấm dạo quanh,
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa.



Giơ tay với lấy về nhà:
“Này trong khuê các đâu mà đến đây ?
Ngẫm âu người ấy báu này,
Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm !"



Liền tay ngắm nghía biếng nằm,
Hãy còn thoang thoảng hương trầm chưa phai.
Tan sương đã thấy bóng người,
Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ.


-Nhẫn từ: Kể từ khi (tiếng cổ).

- Tường gấm: Do chữ cẩm tường, bức tường gạch có vẽ hoa như gấm (một cách tô điểm vǎn hoa).

- Kim thoa: Cái thoa gài tóc bằng vàng.

-Khuê các: Buồng lầu, nơi ở của con gái nhà sang trọng.

#23 Thảo Nguyên

    Thiên Thần.Điên


  • Thành viên
  • PipPipPipPipPip
  • 1438 Bài viết:
  • 167 chủ đề
121

Đăng vào: 24/01/2009 - 13:48

Đoạn 016

Sinh đà có ý đợi chờ,
Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng:
"Thoa này bắt được hư không,
Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về ?"

Tiếng Kiều nghe lọt bên kia:
"Ơn lòng quân tử sá gì của rơi,
Chiếc thoa nào của mấy mươi,
Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao!"

Sinh rằng: "Lân lý ra vào,
Gần đây nào phải người nào xa xôi.
Được rày nhờ chút thơm rơi,
Kể đà thiểu não lòng người bấy nay !

Bấy lâu mới được một ngày,
Dừng chân gạn chút niềm tây gọi là."

Vội về thêm lấy của nhà,
Xuyến vàng đôi chiếc, khăn là một vuông.
Thang mây rón bước ngọn tường,
Phải người hôm nọ rõ ràng chẳng nhe ?



- Hư không: Bỗng không, tự nhiên.

- Hợp phố: Tên một quận, trước thuộc Giao châu, nay thuộc tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Theo Hán sử: Nguyên xưa, ven bể quận Hợp Phố có loại trai sinh ra một loại ngọc quý, nhưng vì bọn quan tước tham nhũng, bắt nhân dân đi mò ngọc cho chúng, dân tình khổ cực, nên ngọc trai biến đi nơi khác hết. Về sau, có vị quan thanh liêm là Mạnh Thường đến nhận chức, cải cách, chính sự, bãi lệnh mò ngọc, thì ngọc trai lại dần dần trở về. Do đó, người ta thường nói "Châu về Hợp Phố" (Hợp Phố châu hoàn), để chỉ những trường hợp vật báu đã bị mất lại trở về với chủ cũ.

- Lân lí: Nguyên nghĩa là xóm và làng, đây dùng như nhgiã bà con láng giềng.

- Niềm tây: Nỗi lòng, chút tâm sự riêng.

- Thang mây: Do chữ vân thê, nguyên là một khí

- Người hôm nọ: Người gặp gỡ hôm đi thanh minh.

- Chăng nhe: (từ cổ) phải chăng là.

#24 Thảo Nguyên

    Thiên Thần.Điên


  • Thành viên
  • PipPipPipPipPip
  • 1438 Bài viết:
  • 167 chủ đề
121

Đăng vào: 20/02/2009 - 15:58

Đoạn 017

Sượng sùng giữ ý rụt rè,
Kẻ nhìn rõ mặt, người e cúi đầu.



Rằng: "Từ ngẫu nhĩ gặp nhau,
Thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã chồn.
Xương mai tính đã rũ mòn,
Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay !

Tháng tròn như gửi cung mây,
Trần trần một phận ấp cây đã liều.
Tiện đây xin một hai điều,
Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng ?"


Ngại ngần nàng mới thưa rằng:
"Thói nhà băng tuyết chất hằng phỉ phong,
Dù khi lá thắm chỉ hồng,
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.

Nặng lòng xót liễu vì hoa,
Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa !"



Sinh rằng: "Rày gió mai mưa,
Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi.
Dù chăng xét tấm tình si,
Thiệt đây mà có ích gì đến ai ?

Chút chi gắn bó một hai,
Cho đành rồi sẽ liệu bài mối manh.
Khuôn thiên dù phụ tấc thành,
Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời.

Lượng xuân dù quyết hẹp hòi,
Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru ?"



-Kẻ: Chỉ Kim Trọng.
Người: Chỉ Kiều, Kim Trọng nhìn tỏ mặt Kiều, mà Kiều thì e thẹn cúi đầu.

- Ngẫu nhĩ: Tình cờ, cũng như "ngẫu nhiên".

- Chồn: Mệt mỏi, ý nói sốt ruột lắm.

-Xương mai: Xương vóc gầy. Cây mai, thân và cành nhỏ bé, nên người ta thường gọi những người xương vóc gầy là mai cốt (xương mai).

-Rũ mòn: Gầy mòn, ý nói tương tư mà gầy mòn đi.

-Tháng tròn như gởi cung mây,
Trần trần một phận ấp cây đã liều!

ý nói suốt tháng tâm thần như gửi ở cung trăng.

- Đài gương: Giá cao, trên mặt chiếc gương lớn và hộp đựng đồ trang sức của phụ nữ. Trong văn cổ, thường mượn chữ đài gương để chỉ người phụ nữ.

-Dấu bèo: ý nói thân phận hèn mọn như cánh bèo trôi nổi mặt nước. ở đây là lời Kim Trọng tự nói khiêm.

- Băng tuyết: ý nói trong sạch, thanh bạch.

-Chất hằng: Một thể chất lúc nào cũng như thế.

-Phỉ phong: Hai thứ rau, người ta dùng lá và củ nấu canh hoặc muối dưa làm món ăn hàng ngày. ý cả câu: Gia đình vốn thanh bạch, mà tư chất thì cũng bình thường, không có tài sắc gì, lời Kiều tự khiêm (Bốn chữ trên nói gia đình, bốn chữ dưới nói bản thân).

-Chỉ hồng:
Do chữ xích thằng (sợi dây đỏ) theo sách Tục U quái lục: Vì Cố, người đời Đường, đi cầu hôn, vào nghỉ quán trọn, gặp một ông già ngồi dưới bóng trăng, mở cái túi vải, đang kiểm sổ sách. Vi Cố hỏi, ông già trả lời: Đây là sổ sách hôn nhân, và chiếc túi vải này dùng đựng những dây đỏ (xích thằng) dùng để buộc chân đôi vợ chồng. Do điển này mà có những danh từ: "chỉ hồng", "tơ hồng" để chỉ việc nhân duyên vợ chồng, và "Nguyệt lão" (ông già dưới trăng), "Trăng già", "ông Tơ", để chỉ người làm mối mai. Tục xưa: khi cưới vợ, thường làm lễ Tơ hồng, tức là tế ông Nguyệt lão xe dây đỏ đó.

- Dù chăng: Dù chẳng, nếu không.

-Khuôn thiên: Khuôn tạo hóa, chỉ trời. Khuôn do chữ quân, tức là cái khuôn dùng để nặn đồ gốm. Người xưa ví tạo hoá đúc nặn ra muôn vật như cái khuôn nặn ra các đồ gốm, nên gọi Tạo hoá là Hồng quân, Thiên quân, (khuôn trời).

-Tấc thành: Tấc lòng chân thành, thành thực.

-Lượng xuân: Nguyên nghĩa là tấm lòng tốt đẹp như mùa xuân. Còn có thể giải là tấm lòng của người phụ nữ trẻ tuổi, xinh đẹp.

#25 Thảo Nguyên

    Thiên Thần.Điên


  • Thành viên
  • PipPipPipPipPip
  • 1438 Bài viết:
  • 167 chủ đề
121

Đăng vào: 27/02/2009 - 18:49

Đoạn 018

Lặng nghe lời nói như ru,
Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng.


Rằng: ""Trong buổi mới lạ lùng,
Nể lòng có lẽ cầm lòng cho đang !
Đã lòng quân tử đa mang,
Một lời vàng tạc đá vàng thủy chung."


Được lời như cởi tấm lòng,
Giở kim thoa với khăn hồng trao tay.


Rằng: "Trăm năm cũng từ đây,
Của tin gọi một chút này làm ghi."


Sẵn tay bả quạt hoa quì,
Với cành thoa ấy tức thì đổi trao.
Một lời gắn bó tất giao,
Mái sau dường có xôn xao tiếng người.


Vội vàng lá rụng hoa rơi,
Chàng về viện sách, nàng dời lầu trang.
Từ phen đá biết tuổi vàng,
Tình càng thấm thía, dạ càng ngẩn ngơ.


Sông Tương một dải nông sờ,
Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia.
Một tường tuyết trở sương che,
Tin Xuân đâu dễ đi về cho năng.



-Chiều xuân: Như nói tứ xuân (Xuân tứ).

-Nét thu: Nét thu ba, nét sóng thu, tức con mắt.

-Đá vàng:
Do chữ kim thạch. Kim đây là loài đồng, chỉ chuông đồng, vạc đồng; thạch là đá, chỉ bia đá. Thời xưa, những việc lớn, những công đức hay châm ngôn, thường được người ta khắc vào chuông đồng, bia đá, để lưu truyền thiên cổ. Do đó, người ta thường dùng danh từ kim thạch để chỉ cái gì có tính cách vĩnh cửu bền vững, không thay đổi được, như ghi tạc vào vàng đá. Đây nói: Kiều nhận lời gắn bó với Kim Trọng, và xin ghi tạc lời đó, như ghi tạc vào vàng đá.

- Bả: Bản Trương Vĩnh Ký chú Bả là cầm.

-Quạt hoa quì: Chiếc quạt bằng lá quì vẽ hoa.

- Tất giao: Sơn và keo, chỉ tình nghĩa gắn bó bền chặt với nhau như hai chất keo và sơn.

-Lầu trang: Lầu trang điểm, chỉ dùng lầu ở của phụ nữ.

- Đá biết tuổi vàng: Muốn xem vàng bao nhiêu tuổi, xấu tốt thế nào, người ta thường dùng thứ đá cuội đen để thử, gọi là hòn đá thử vàng. Qua sự trao đổi, Kim-Kiều đã hiểu biết và yêu nhau, như đá biết rõ tuổi vàng.

- Sông Tương: Hai câu này lấy ý ở bài thơ trong Tình sử:

" Quân tại Tương giang đầu,
Thiếp tại Tương giang vĩ,
Tương tư bất tương kiến,
Đồng ẩm Tương giang thuỷ"


Dịch nghĩa:

Chàng ở đầu sông Tương,
Thiếp ở cuối sông Tương,
Nhớ nhau mà chẳng thấy nhau,
Cùng uống nước sông Tương.


-Tuyết trở sương che: ý nói bức tường của nhà Kiều với nhà Kim Trọng như có tuyết sương ngăn trở, che khuất khiến cho hai người gặp gỡ trao đổi tin tức

#26 Thảo Nguyên

    Thiên Thần.Điên


  • Thành viên
  • PipPipPipPipPip
  • 1438 Bài viết:
  • 167 chủ đề
121

Đăng vào: 04/04/2009 - 18:46

Đoạn 019

Lần lần ngày gió đêm trăng,
Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua.
Ngày vừa sinh nhật ngoại gia,
Trên hai đường, dưới nữa là hai em.



Tưng bừng sắm sửa áo xiêm,
Biện dâng một lễ xa đem tấc thành.
Nhà lan thanh vắng một mình,
Gẫm cơ hội ngộ đã đành hôm nay.



Thì trân thức thức sẵn bày,
Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường.
Cách hoa sẽ đặng tiếng vàng,
Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông.



Trách lòng hờ hững với lòng,
Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu.
Những là đắp nhớ đổi sầu,
Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm.



Nàng rằng: "Gió bắt mưa cầm,
Đã cam tệ với tri âm bấy chầy.
Vắng nhà được buổi hôm nay,
Lấy lòng gọi chút sang đây tạ lòng !"





-Thưa hồng rậm lục: Màu đỏ ít đi, màu xanh rậm thêm, tức là mùa xuân sắp qua, mùa hạ sắp tới.

-Hai đường: Do chữ song đường (xuân đường và huyền đường) chỉ cha mẹ.

- Nhà lan: Do chữ lan thất.

- Thì trân: Những thức ăn quý đương mùa. Thuý Kiều mang sang để tiếp Kim Trọng. Chú ý, "sẵn bày" ở đây không phải là bày biện ra bàn ở nhà Kiều.

-Lửa hương: Hai chữ này thường dùng để chỉ tình duyên vợ chồng.

- Hoa râm: Hoa cây râm, sắc trắng, ví mái tóc lốm đốm bạc trông như những chẫm hoa râm.

- Tri âm: Hiểu biết tiếng đàn. Đời Xuân Thu, Bá Nha, một người giỏi đàn, Chung Tử Kỳ, một người giỏi nghe đàn, đều nổi tiếng, cùng làm bạn với nhau. Tử Kỳ hiểu được tâm hồn bạn trong tiếng đàn, khi Bá Nha gẩy đàn, như núi Thái - Sơn", khi Bá Nha nghĩ đến dòng chảy (lưu thuỷ), thì Tử Kỳ khen: "Tiếng đàn cuồn cuộn như sông Giang, sông Hà". Sau Tử Kỳ chết, Bá Nha đứt dây, đập đàn ra, và than rằng: "Trong thiên hạ không còn ai là tri âm (người hiểu biết tiếng đàn của mình) nữa". Về sau, tri âm dùng để chỉ bạn thân, tri kỷ, hoặc bạn tình.






Chủ đề tương tự Thu gọn